Bí tiểu ở nữ giới, buồn tè mà không tè được

Bí tiểu ở nữ giới, buồn tè mà không tè được
Bí tiểu ở nữ giới, buồn tè mà không tè được

Chẩn đoán phân biệt bí tiểu, bạn có biết về bí tiểu? Một lượng lớn nước tiểu tích tụ trong bàng quang và không thải ra ngoài được gọi là bí tiểu, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bí tiểu, bí tiểu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của người bệnh nên cần phải chữa trị kịp thời. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu triệu chứng bí tiểu ở phụ nữ?

Bí tiểu ở nữ giới, buồn tè mà không tè được
Bí tiểu ở nữ giới, buồn tè mà không tè được

1. Triệu chứng bí tiểu ở nữ giới

Bí tiểu là khi bàng quang chứa đầy nước tiểu, luôn cảm thấy buồn tiểu nhưng không thể thoát ra ngoài bình thường.

Bí tiểu có thể chia bí tiểu thành hai loại: bí tiểu cấp tính và mãn tính. Bí tiểu cấp tính khởi phát đột ngột, bàng quang chứa đầy nước tiểu nhưng lại không thể thải ra ngoài, người bệnh rất khó chịu đau đớn. Bí tiểu mãn tính thì thường khởi phát chậm, bệnh kéo dài, có thể sờ ở bụng dưới thấy bàng quang đầy nước tiểu nhưng bệnh nhân không thải hết được, đau dữ dội.

Đề cập đến bàng quang đầy nước tiểu, lượng nước tiểu vượt quá khả năng bình thường của bàng quang và không thể bài tiết nước tiểu vì một số lý do. Nó có thể xảy ra đột ngột, hoặc đột ngột nặng lên trên cơ sở chứng khó tiểu mãn tính, nhưng ở những bệnh nhân tiết niệu, chứng khó tiểu thường gặp hơn.

Triệu chứng thường gặp khi bị bí tiểu:

  • Tiểu khó và bí tiểu

Tiểu khó là biểu hiện khi đi tiểu phải tăng áp lực trong ổ bụng để tống xuất ra ngoài, khi tình trạng nghiêm trọng gây buồn tè mà không tè được nên sẽ có nước tiểu trong bàng quang không thải ra ngoài được gọi là bí tiểu.

  • Tiểu ít

Nguyên nhân chính gây tiểu ít là do có vật cản trên đường tiểu, hoặc khả năng co bóp của bàng quang kém.

2. Nguyên nhân bí tiểu ở nữ giới

Nguyên nhân thường gặp gây bí tiểu ở nữ giới là tắc nghẽn cơ học niệu đạo hoặc đường ra của bàng quang do các tổn thương thực thể khác nhau. Chẳng hạn như những tổn thương niệu đạo bao gồm viêm, sỏi, khối u, chấn thương, dị vật, hẹp và dị tật niệu đạo bẩm sinh; tổn thương tắc nghẽn cổ bàng quang bao gồm cổ bàng quang co thắt, xơ hóa bàng quang, khối u.

Ngoài ra, khối u vùng chậu, phụ nữ có thai,… cũng có thể gặp phải tình trạng bí tiểu. Ngoài ra còn có tắc nghẽn động do rối loạn vận động tiểu tiện, nguyên nhân thường gặp là do tổn thương hệ thần kinh trung ương và ngoại biên, chẳng hạn như chấn thương tủy sống, khối u, phẫu thuật vùng chậu chấn thương dây thần kinh kiểm soát bàng quang, bệnh tiểu đường, v.v., dẫn đến trong rối loạn chức năng bàng quang thần kinh.

Ngoài ra nếu bạn đang dùng các loại thuốc làm giãn cơ trơn như atropine, propensine và scopolamine thì đôi khi có thể gây bí tiểu.

3. Điều trị bí tiểu cấp và mãn tính

  • Điều trị bí tiểu 1. Bí tiểu cấp tính

Nguyên tắc điều trị là loại bỏ nguyên nhân và thông tiểu trở lại. Nếu không rõ nguyên nhân hoặc tắc nghẽn khó giải quyết trong một thời gian, nên đặt ống thông tiểu hoặc mở thông bàng quang trên xương mu để dẫn lưu nước tiểu bàng quang để giảm đau, sau đó nên tiến hành kiểm tra thêm để làm rõ nguyên nhân.

Nếu sau khi chườm nóng hoặc châm cứu vùng bàng quang trên xương mu mà vẫn không đi tiểu được thì có thể đặt ống thông tiểu, nếu trong thời gian ngắn không thể phục hồi được tình trạng bí tiểu thì nên đặt ống thông tiểu để thông tiểu liên tục và rút ra khi thích hợp.

Khi bệnh nhân bị bí tiểu cấp tính không thể luồn được ống thông tiểu thì tiến hành mở bàng quang trên xương mu, nếu không có kim chọc bàng quang thì có thể phẫu thuật mở bàng quang trên xương mu. Nếu nguyên nhân gây tắc nghẽn không thể được giải quyết, nước tiểu có thể được dẫn lưu vĩnh viễn và ống dẫn lưu được thay thế định kỳ.

Khi đặt sonde tiểu hoặc mở bàng quang để dẫn lưu bí tiểu cấp, nước tiểu phải được thải ra từ từ ngắt quãng, 500-800ml mỗi lần, tránh làm rỗng bàng quang nhanh có thể gây xuất huyết bàng quang ồ ạt do tụt đột ngột nước tiểu. áp lực tĩnh mạch.

  • Điều trị bí tiểu 2. Bí tiểu mãn tính

Nếu do tổn thương tắc nghẽn cơ học, thận ứ nước đường tiết niệu trên giãn, chức năng thận suy giảm thì nên dẫn lưu nước tiểu bàng quang trước, sau khi thận ứ nước thuyên giảm, chức năng thận cải thiện thì tùy theo nguyên nhân mà giải tỏa tắc nghẽn.

Nếu nguyên nhân là do tắc nghẽn động, hầu hết bệnh nhân cần đặt ống thông tiểu và thay thế nó thường xuyên; đối với những người bị tràn dịch đường tiết niệu trên nghiêm trọng, có thể sử dụng thủ thuật mở bàng quang hoặc mở thận trên xương mu để dẫn lưu nước tiểu.

Căn cứ theo chứng mà trị bệnh nguyên phát, giải trừ tắc nghẽn. Ví dụ, những bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt có thể phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt; những người không thể chịu đựng được phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt có thể trải qua phẫu thuật cắt bàng quang trên xương mu.

Đối với những người bị tắc nghẽn cổ bàng quang, nên thực hiện phẫu thuật cắt bỏ cổ bàng quang qua niệu đạo hoặc nong cổ bàng quang. Đối với những người bị hẹp niệu đạo, có thể thực hiện nong niệu đạo hoặc rạch bên trong bằng dao lạnh dưới nội soi niệu đạo.

Sỏi bàng quang nên được loại bỏ. Khối u bàng quang nên được điều trị phù hợp. Bàng quang thần kinh và yếu cơ bàng quang có thể được điều trị bằng thuốc trước tiên, và nếu nó không hiệu quả, thì cần phải phẫu thuật cắt bàng quang.

Trên đây là tình trạng bí tiểu ở nữ giới, nếu bạn đang gặp tình trạng này, hãy liên hệ hotline 087.658.8866 để được các chuyên gia tư vấn nhé!